Trong loạt bài trước, chúng tôi đã giới thiệu về giải pháp Track & Trace và công nghệ RFID. Bên cạnh RFID, barcode cũng là một công nghệ nhận dạng phổ biến, thường được các nhà máy tại Việt Nam sử dụng nhiều. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng so sánh hai công nghệ nhận dạng này.

Barcode là gì?

Barcode được định nghĩa là “loại mã mà máy móc có thể đọc được dưới dạng những con số, được thể hiện dưới dạng các đường song song có độ rộng khác nhau, được in trên một sản phẩm và dùng để định danh sản phẩm đó”. Giải thích một cách đơn giản, công nghệ Barcode là phương pháp nhập dữ liệu vào máy tính dể dàng, chính xác mà không cần mất công “gõ bàn phím”.

Hệ thống mã vạch giúp cho các doanh nghiệp và các tổ chức có thể theo dõi sản phẩm, giá cả và mức độ lưu trữ hàng hoá, phục vụ cho việc quản lý của hệ thống phần mềm máy tính, từ đó cho phép doanh nghiệp và các tổ chức tăng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.

Các vạch và kiểu mẫu của mã vạch dùng để biểu diễn các con số và dữ liệu, chúng cho phép những thông tin cơ bản của một sản phẩm có thể được các máy quét quang học hay máy đọc mã vạch đọc một cách dễ dàng và những thông tin này có thể được nhập tự động vào hệ thống máy tính. Điều này làm giảm mạnh thời gian bỏ ra cho việc ghi lại những thông tin đó và thậm chí loại bỏ những lỗi sai do người nhập dữ liệu gây ra.

Mã vạch lúc mới xuất hiện chỉ là những thiết kế 1 chiều, bao gồm những đường thẳng với nhau và chỉ có thể đọc được bởi những máy quét mã vạch được thiết kế đặc biệt. Tuy nhiên, mã vạch ngày nay bao gồm nhiều hình dáng, kích thước, thiết kế khác nhau và có nhiều loại thậm chí có thể đọc được bằng điện thoại hay các thiết bị khác.

Có hai loại mã vạch: tuyến tính (hay 1D) và 2D. Loại mã vạch dễ nhận diện nhất là mã vạch UPC (Universal Product Code), là loại mã vạch tuyến tính 1D bao gồm hai phần riêng biệt: phần mã vạch và phần 12 chữ số UPC. Sáu chữ số đầu tiên của mã vạch là dãy số nhận diện của nhà sản xuất sản phẩm. Năm chữ số tiếp theo đại diện cho dãy số của sản phẩm. Chữ số cuối cùng được gọi là Check digit, cho phép các máy quét có thể kiểm tra xem mã vạch đã được quét chính xác hay không.

CÁC DẠNG MÃ VẠCH 1D

  • Uniform Product Code (UPC):  Loại mã vạch dành cho việc thanh toán, bán hàng của các cửa hàng bán lẻ, hàng tồn kho,…
  • Code 39: Loại mã vạch dùng cho việc xác định, lưu trữ và theo dõi vận chuyển hàng hóa
  • POSTNET:  Loại mã được mã hoá và in trên thư tín của nước Mỹ.
  • Bookland:  Loại mã vạch dựa trên các số ISBN và được sử dụng trên bìa sách.
  • Code 128: Loại mã vạch được ưu tiên hơn Code 39 vì nhỏ gọn hơn.
  • Interleaved 2 of 5: Loại mã vạch được sử dụng trong các ngành công nghiệp vận chuyển và kinh doanh kho chứa hàng.
  • Codabar:  Loại mã vạch được sử dụng bởi Federal Express, trong thư viện và trong các ngân hàng máu.

CÁC DẠNG MÃ VẠCH 2D

Hiện nay, phổ biến nhất trong các mã vạch 2D là QR code và Data matrix

  • Data Matrix: Loại mã vạch lí tưởng cho việc đánh dấu những sản phẩm có kích thước nhỏ nhờ vào khả năng mã hoá 50 kí tự trong một vùng có diện tích vô cùng nhỏ của nó. Phổ biến trong ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ và linh kiện điện tử.
  • QR Code: viết tắt của chữ Quich Read, là loại mã thường gặp trong quảng cáo vì nó cung cấp một cách truy cập nhanh chóng tới trang web của một thương hiệu. Các loại điện thoại thông minh có thể đọc được dễ dàng.

Mã vạch 1D chỉ có thể chứa tối đa 85 kí tự. Ngược lại, mã vạch 2D có thể chứa nhiều hơn 7000 kí tự, cho phép biểu diễn gần hai đoạn văn thông tin.
Mã vạch tuyến tính thường có thể chứa bất kì loại thông tin dạng văn bản. Ngược lại, mã vạch 2D phức tạp hơn có thể bao gồm nhiều thông tin hơn trong đoạn mã như: giá cả, số lượng, địa chỉ trang web hay hình ảnh.

RFID

Về phía doanh nghiệp thì các thẻ RFID có tiềm năng tuyệt vời trong việc lưu trữ trong kho và theo dõi tài sản, bởi vì họ có thể dựa vào thông tin mà thẻ RFID cung cấp từ khoảng cách xa (đôi khi lên tới 100m), để có thể biết được số lượng của hàng hoá mà họ có trong thời gian thực và giảm thiểu nguy cơ kiểm kê sai lệch.

Nhiều người tiêu dùng không nhận thức được sự ảnh hưởng của công nghệ này trên cuộc sống của họ. Lấy thẻ mà cổng thu phí giao thông ở địa phương bạn sử dụng làm ví dụ. Trong nhiều trường hợp, những thẻ này được trang bị các con chip RFID, cho phép các tuyến đường thu phí có thể thu thập tất cả các thông tin có liên quan tới bạn, kể cả khi bạn đang đi với vận tốc cao.

Không may là công nghệ RFID đã không đạt được nhiều sức kéo mà đáng lí ra tiềm năng của nó có thể đạt được. Lí do chủ yếu là vì giá thành cao của các thẻ RFID, trong một số trường hợp có thể lên tới $0.20 so với mã vạch in, vốn chỉ có giá vài xu lẻ.

Nếu có sự giảm mạnh trong chi phí lắp đặt của công nghệ này cho các doanh nghiệp, RFID vẫn có thể thành công. Tuy nhiên sự nổi lên của công nghệ nhận diện barcode bằng hình ảnh có thể làm lu mờ những lợi ích mà RFID mang lại cho các cửa hàng bán lẻ nếu như công nghệ này không được áp dụng nhanh chóng.

Một rào cản lớn khác phải đối mặt khi áp dụng hàng loạt công nghệ RFID là: để gặt hái những phần lợi thực sự của RFID, toàn bộ dây chuyền cung cấp (từ nhà máy cho tới gia đình) đều phải cài đặt công nghệ RFID. Với chi phí hiện nay thì đây là một nỗ lực cực kì tốn kém khi đòi hỏi mọi mắt xích của dây chuyền phải đều phải mua thiết bị mới.

Bất chấp những thách thức mà việc áp dụng công nghệ RFID phải đối mặt, số lượng sử dụng công nghệ này đang tăng khoảng 14% mỗi năm theo nghiên cứu của ABI và được dự đoán sẽ vượt hơn 8.25 tỉ USD trong năm 2014.

Advertisements

About New Ocean - Manufacturing Solutions

We are the solution provider in automation, machine vision. Our system will support your factory work smoothly and maximize the profit.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s